Số lượt truy cập

Đang có 48 người đang xem website.

 

Trường Đại học Nha Khoa Sài Gòn

Tháng 10 năm 1954, GS. E. Leriche, phụ trách Ban Nha khoa trường Đại học Y Dược Hà Nội chuyển vào Sài Gòn. Một số sinh viên Việt Nam - người miền Bắc và miền Nam - cũng chuyển theo. Trong lịch sử ngắn ngủi của đào tạo ngành Nha trước đó, có thể ghi nhận những điểm mốc quan trọng: 1939 khai sinh, 1944 khóa Nha sĩ quốc gia đầu tiên, 1945 thành lập “Ban Nha học” trong Đại học Y Dược khoa hỗn hợp tại Hà Nội.

Ban giám hiệu Đại học Nha Y khoa Sài Gòn tiếp khách nước ngoài (1974)



Tháng 5 năm 1955, tại Y Dược Đại học đường Sài Gòn, Ban Nha khoa được giao cho GS. Trịnh Văn Tuất phụ trách. Ban Nha khoa về qui mô tổ chức và hoạt động còn nhỏ yếu. Cơ sở giảng dạy và thực tập chưa có nên phải đặt tại bệnh viện Bình Dân. Ba giảng viên lúc đó là GS. E. Leriche, GS. Trịnh Văn Tuất và GS. Nguyễn Huy Tiếp đã tích cực gây dựng để nâng dần Ban Nha thành khoa Nha trong hệ thống đại học với nhiều bộ môn.
Theo sắc lệnh số 83/GD ngày 12 tháng 8 năm 1963 của Tổng thống Việt Nam cộng hòa, Nha khoa Đại học đường được thành lập, nhưng mãi hơn một năm sau, mới chính thức tách rời Y khoa đại học đường Sài Gòn. GS. Nguyễn Huy Tiếp được bổ nhiệm giữ chức vụ Khoa trưởng đầu tiên theo Sự vụ lệnh số 1246-GD/NV/SVL ngày 9 tháng 10 năm 1964 cho đến ngày 13 tháng 11 năm 1968. Trong năm học 1966-1967, cùng với Y khoa Đại học đường Sài Gòn, Nha khoa Đại học đường được chuyển về cơ sở mới ở 652 Nguyễn Trãi, Quận 5 cho đến ngày nay. Sau đó GS. Lâm Văn Mạnh làm Quyền Khoa trưởng từ 14 tháng 11 năm 1968 đến ngày 6 tháng 1 năm 1970. Từ ngày 7 tháng 1 năm 1970 đến tháng 4 năm 1975, GS. Nguyễn Văn Thơ đảm nhiệm nhiệm vụ này.
Năm 1971, trường Đại học Nha khoa đổi tên là trường Đại học Nha Y khoa, theo sắc lệnh số 025/SL/GD, ngày 31 tháng 3 năm 1971 của Thủ tướng chính quền Sài gòn.
Trong những năm 1970, trường Đại học Nha Sài Gòn đã có đủ các bộ môn:
Bộ môn Chữa răng: là bộ môn hoạt động mạnh nhất và cũng là bộ môn nền tảng của trường. GS. Nguyễn Huy Tiếp là Trưởng bộ môn và GS. Nguyễn Tư Mô là Phó trưởng bộ môn.
Bộ môn “Khẩu xoang” (Phẫu thuật miệng) có những giảng viên là BS. Y khoa chuyên về Khẩu xoang như GS. Trịnh Văn Tuất (Trưởng bộ môn), BS. Tạ Trung Quân, BS. Hoàng Cơ Bình, BS. Nguyễn Văn Kiều, và những BS. Nha khoa như GS. Lê Trọng Phong GS. Hà Thị Hòe.
Bộ môn “Giải phẫu” (Tiểu phẫu thuật răng miệng): với người phụ trách là GS. Tô Huệ Mỹ.
Bộ môn “Nhương nha cố định và di động” (Phục hình cố định và tháo lắp): Trong 2 năm 1955-1956, do GS. Leriche phụ trách chung, nha sĩ Trần Văn Thái phụ trách môn nhương nha toàn phần và các nha sĩ khác như GS. Tô Huệ Mỹ, nha sĩ Trần Kim Chi phụ trách môn Nhương nha tháo lắp bán phần. Từ năm 1966, bộ môn tách thành 2 bộ môn: nhương nha cố định (trưởng bộ môn: GS. Lâm Văn Mạnh) và nhương nha di động (trưởng bộ môn: GS. Trần Công Vàng).
Bộ môn Nha chu: hình thành từ 1969. Người phụ trách đầu tiên là nha sĩ Nghiêm Thị Hòa, sau đó là GS. Lê Văn Tài.
Bộ môn “Nha nhi đồng” (Răng trẻ em): do GS. Phạm Thị Thân phụ trách.

Ban giảng huấn Đại học Nha Y khoa Sài Gòn (1971)


Bộ môn “Chỉnh nha” (Chỉnh hình răng mặt) do GS. Leriche là người phụ trách đầu tiên, sau đó từ 1960, GS. Nguyễn Văn Thơ chịu trách nhiệm giảng dạy lý thuyết cho 2 năm cuối. Từ năm 1967, GS. Trương Văn Ngọc giảng dạy tại bộ môn. Năm 1972, nha sĩ Nguyễn Kim Nga nhận công tác chuyên viên trong bộ môn. Sau ngày Sài Gòn được giải phóng, nha sĩ Trương Văn Ngọc vẫn đảm nhiệm công tác này.
Trường Đại học Nha Y khoa Sài Gòn đã đóng góp cho ngành Nha hàng trăm Nha sĩ được đào tạo chính quy. Số Nha sĩ này phần lớn làm việc tại Sài Gòn (trường Nha và các bệnh viện), một số ít về các tỉnh. Khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, nhiều người trong số họ đã ở lại liên tục làm việc, góp phần vào sự nghiệp chung của ngành Răng hàm mặt Việt Nam.
Để hiểu rõ hơn về đào tạo Nha Y khoa vào thời điểm trước 1975, xin trích dẫn phần liên quan đến Đại học Nha Y khoa trong quyển Kim chỉ nam sinh viên Đại học Sài Gòn, ấn phẩm của Bộ Giáo dục, 1970:
Điều kiện nhập học vào trường Đại học Nha
Phải có bằng Tú tài toàn phần các Ban A,B,C hay D. Phải qua một kỳ thi tuyển nhập học do mỗi trường tổ chức.
Điều lệ qui định tổ chức kỳ thi tuyển và chương trình của năm thứ nhất Nha- Y- khoa
Qui định tổ chức thi tuyển
Đầu tháng 9 Dương lịch mỗi năm sẽ mở kỳ thi tuyển sinh viên vào năm thứ nhất Đại học Nha-Y khoa, thí sinh phải có văn bằng Tú tài toàn phần hay một văn bằng tương đương về học vụ.
Các bài thi gồm có: một bài về Toán, Lý, Hóa; một bài về Sinh lý học; Một bài về Văn hóa; Một bài về Sinh ngữ; Một bài về Vẽ.
1). Bài Toán, Lý, Hóa có 6 câu hỏi (2 câu về Toán, 2 câu về Vật lý, 2 câu về Hóa). Thời hạn: 1giờ 30 phút. Số điểm tối đa: 60.
2). Bài Sinh lý học: có 15 câu hỏi. Thời hạn: 1 giờ. Số điểm tối đa: 20.
3). Bài Văn hóa: (Sử, Địa, Triết và Danh nhân) có 20 câu hỏi (5 câu về Sử, 5 câu về Địa, 5 câu về Danh nhân). Thời hạn: 1giờ. Số điểm tối đa: 40.
4). Bài sinh ngữ: Khi nộp đơn thí sinh phải xác định chọn 1 trong 2 bài Pháp văn hoặc Anh văn để dịch sang Việt văn, bài dịch sẽ kèm theo 5 câu hỏi để thí sinh trả lời bằng ngoại ngữ đã chọn. Thời hạn: 1giờ. Số điểm tối đa: 40.
5). Bài vẽ: Thí sinh vẽ theo hình 1 mẫu do Ban Giám khảo chọn. Thời hạn: 1giờ. Số điểm tối đa: 20.
Thí sinh đỗ Tú tài phần II, hạng Bình thứ trở lên, sẽ được tăng điểm như sau: Hạng bình thứ 4 điểm, Hạng Bình 6 điểm, Hạng ưu: 8 điểm.
Thí sinh có chứng chỉ khoa học được tăng mỗi chứng chỉ 4 điểm.

Tiếp khách quốc tế, năm 1974


Thí sinh đỗ Tú tài phần II ban Cổ ngữ (Latinh, Hy Lạp, Hán) sẽ được tăng 4 điểm. Số điểm này sẽ cộng vào tổng số điểm của 5 bài thi ở trên để sếp hạng.
Số thí sinh trúng tuyển sẽ được ấn định mỗi năm.

Khu điều trị 2, năm 1967

Chương trình học

Các môn học

- Vật lý học, Hóa học, Động sinh học, Thực sinh học,

- Sinh ngữ: Sinh ngữ I, Sinh ngữ II

- Cơ thể học về răng, Cơ học áp dụng,Cốt cách học (Sọ và Mặt), Chương trình này sẽ do hai trường Đại học Nha- Y khoa và Khoa học đảm nhiệm và có thể sửa đổi tùy theo nhu cầu giáo dục Nha- Y- khoa.

Kỳ thi cuối năm

Cuối niên học sẽ có kỳ thi để xét năng lực của sinh viên, những thí sinh hỏng khóa 1, sẽ được dự thi khóa 2, nếu hỏng nữa thì chỉ được học lại 1 năm thôi.

Các bài thi gồm tất cả các môn đã học trong chương trình.


Lên đầu trang |Số lần xem: 17772


Đăng nhập
Username:
Password:
Quảng cáo PS
Chuyên mục lượng giá
Phần mềm giải phẫu bệnh
đại học quốc tế miền đông
Học bổng
Research methods and statistics
Link EBM mới
EBM Promotion in Ho Chi Minh City
Tạp chí Y Học TP. HCM
Thư viện điện tử ĐHYD
Đổi mới dạy và học
Từ điển Giải phẫu
Từ điển Anh Pháp Việt
Liên hệ quảng cáo