Số lượt truy cập

Đang có 211 người đang xem website.

 

Giới thiệu Bộ môn Nhi
I. VÀI NÉT LỊCH SỬ CỦA BỘ MÔN NHI:
-Tên đơn vị: Bộ môn Nhi, Khoa Y, ĐHYD TP. Hồ Chí Minh
-Tóm tắt quá trình xây dựng và phát triển từ năm 1947 đến nay:
Sau hiệp định Geneve 1954, có thêm một số Giáo sư người Việt từ Trường Đại học Y khoa Hà Nội vào Sài Gòn nên mới tách thành 4 bộ môn lâm sàng là nội, ngọai, sản, nhi. Khoa trưởng Đại học Y khoa Sài Gòn người Việt đầu tiên là Gíao sư Thạc sĩ Phạm Biểu Tâm. Chủ nhiệm Bộ môn Nhi trước năm 1975 là Giáo sư Thạc sĩ Phan Đình Tuân.
Bộ môn Nhi, Khoa Y, Đại học Y Dược TP HCM hiện nay được thành lập sau ngày 30.4.1975. Chủ nhiệm Bộ môn đầu tiên là GS.BS Vũ Thị Thoa. Đến năm 1978, GS.TS. Tạ Thị Ánh Hoa từ Viện Nhi Hà Nội vô ĐHYD TP HCM làm Chủ nhiệm từ 1978 về hưu năm 1998.
GS.TS. BSCK2 Hòang Trọng Kim làm Chủ nhiệm Bộ môn từ năm 1998 đến tháng 4 năm 2010. PGS.TS.BS. Vũ Minh Phúc kế nhiệm từ tháng 4 năm 2010 đến nay

II. TỔ CHỨC VÀ CHỨC NĂNG CỦA BỘ MÔN NHI:
II.1. Tình hình tổ chức và nhân lực:
Hiện nay Bộ môn Nhi có 37 người, chia làm 2 tổ làm việc ở 2 bệnh viện thực hành của Bộ môn là BV Nhi Đồng 1 và BV Nhi Đồng 2.
Trưởng Bộ môn
: PGS.TS.BS. Vũ Minh Phúc
Phó Trưởng bộ môn
: PGS.TS.BS. Vũ Huy Trụ, PGS.TS.BS. Phạm Thị Minh Hồng
Giáo
vụ sau đại học: PGS.TS.BS. Vũ Huy Trụ 
Giáo vụ đại học
: TS.BS. Nguyễn Anh Tuấn 
Giảng viên
: GS.TS.BSCK2 Hòang Trọng Kim, PGS.TS.BSCK2 Võ Công Đồng, PGS.TS.BS Lâm Thi Mỹ, PGS.TS.BS Lê Thị Ngọc Dung, PGS.TS.BS Vũ Huy Trụ, PGS.TS.BS Nguyễn Thị Thanh Lan, PGS.TS.BS Phạm Lê An, PGS.TS.BS Phan Hữu Nguyệt Diễm, PGS.TS.BS Bùi Quốc Thắng, PGS.TS.BS Đoàn Thị Ngọc Diệp, PGS.TS.BS Trần Diệp Tuấn, PGS.TS.BS Vũ Minh Phúc, PGS.TS.BS Phạm Thị Minh Hồng, TS.BSCK2 Huỳnh Thị Duy Hương, TS.BS Nguyễn Anh Tuấn, BSCK2 Ngô Thị Kim Nhung, BSCK2 Lê Thị Phan Oanh, ThS.BS.NCS Phạm Diệp Thùy Dương, ThS.BS.NCS Bùi Quang Vinh, ThS.BS.NCS Nguyễn Huy Luân, ThS. BS.NCS Nguyễn Thái Sơn, ThS.BS.NCS Đỗ Nguyên Tín, ThS.BS Trần Nguyễn Như Uyên, ThS.BS Đặng Văn Quý, ThS.BS.NCS Phùng Nguyễn Thế Nguyên, ThS.BS Nguyễn Hoài Phong, ThS.BS Võ Nguyễn Diễm Khanh, ThS.BS.NCS Trần Thái Bình, ThS.BS Nguyễn Thu Tịnh, ThS.BS Nguyễn Thị Mai Lan, ThS.BS Trần Đình Nguyên, BSCK1 Hồ Thị Tâm, BS cựu nội trú Huỳnh Thị Vũ Quỳnh, BS cựu nội trú Nguyễn An Nghĩa, Thư ký: cô Nguyễn Ngọc Hương, cô Trần Thị Thu Hòa, cô Nguyễn Xuân Khánh Linh.
II.1.
Chức năng, nhiệm vụ của Bộ môn Nhi: Giảng dạy đại học và sau đại học, khám bệnh, điều trị, tham gia quản lý các khoa trong bệnh viện, biên sọan sách giáo khoa, tài liệu giảng dạy, nghiên cứu và hướng dẫn nghiên cứu khoa học, giúp đỡ & huấn luyện đào tạo cho tuyến trước, hợp tác quốc tế …
II.2.
Cơ sở vật chất và thiết bị dụng cụ y tế: Bộ môn có văn phòng tại 2 bệnh viện Nhi đồng I & II của thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài sự hỗ trợ của nhà trường trong việc mua sắm trang thiết bị dạy học, bộ môn đã tổ chức nhiều buổi sinh hoat khoa học, viết sách, viết báo tìm nguồn kinh phí để nối mạng internet, trang bị máy vi tính, máy chiếu LCD, mua sắm các mô hình thực hành và tất cả các giảng viên của bộ môn đều có máy tính xách tay để phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học...
II.3. Nguyên tắc làm việc của Bộ môn:

-Coi trọng sự đoàn kết trong bộ môn.
-Mọi công việc đều phải có kế họach thực hiện.
-Khi có công việc gì cần làm, phải bàn kỹ, lấy ý kiến cả bộ môn, khi đã nhất trí thi phải cùng nhau thực hiện.
-Chặt chẽ trong công tác quản lý nhân sự, công việc, sinh viên, chương trình dạy và học.
-Thông báo cho học viên ngay từ đầu khóa học các mục tiêu học tập, chỉ tiêu thực tập, nội dung cần học, nội qui, thể lệ thi cử …
-Nghiêm túc trong thi cử, chấm thi phải dựa trên đáp án chi tiết soạn thảo từ trước.
- Tích cực trong công tác hợp tác quốc tế.

III. NHỮNG THÀNH TÍCH ĐÃ ĐẠT:
Hoàn thành xuất sắc tất cả các nhiệm vụ được giao:
III.1. Giảng dạy
lý thuyết, thực hành đầy đủ, đúng lịch của nhà trường cho tất cả các đối tượng:
-Đại học là sinh viên Y4, Y6, chuyên tu 2, chuyên tu 3, chuyên tu 4, răng hàm mặt, cử nhân điều dưỡng ; trung học là điều dưỡng trung cấp, nữ hộ sinh, gây mê hồi sức.
-Sau đại học như BS nội trú, BS chuyên khoa 1, BS chuyên khoa 2, Thạc sĩ, Tiến sĩ …
- Trong các năm từ 1993 đến nay, Bộ môn Nhi đã đào tạo được 23 Tiến sĩ (và 9 sắp tốt nghiệp), 125 thạc sĩ (và 35 sắp tốt nghiệp), 22 thạc sĩ hệ chuyển đổi (và 8 sắp tốt nghiệp), 75 BS chuyên khoa 2 (và 24 sắp tốt nghiệp), 661 BS chuyên khoa 1(và 59 sắp tốt nghiệp), 65 BS nội trú (và 15 sắp tốt nghiệp
III.2. Tổ chức thi
và chấm thi nghiêm túc cho tất cả các đối tượng học viên Y4, Y6, CT2, CT3, BS.nội trú, BS. CKI, BS.CK II, Cao học, Nghiên cứu sinh ở ĐHYD TPHCM và BS CT tuyến cơ sở ở Đồng Nai, Bình Dương… Biên sọan ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm thi lý thuyết cho các đối tuợng đại học và sau ĐH.
III.3.
Viết sách giáo khoa, soạn giáo án, viết giáo trình, kế hoạch bài giảng lý thyết, viết nội dung, mục tiêu, chỉ tiêu thực tập lâm sàng cho tất cả các đối tượng học viên đại học và sau đại học.
- Xuất bản và tái bản nhiều lần các loại sách giáo khoa đại học và sau đại học : “ Nhi khoa: Chương trình đại học” (đã tái bản 3 lần), “Nhi khoa: Chương trình sau đai học“ tập 1, “Nhi khoa: Chương trình sau đai học“tập 2, “Nhi khoa: Chương trình sau đai học“ tập 3. “ Nhi khoa: Chương trình đào tạo Bác sĩ tuyến cơ sơ”; “ Hướng dẫn thực tập lâm sàng” cho sinh viên Y6, Y4 và học viên sau đại học.
- Viết sách tham khảo, sách chuyên khảo dùng để giảng dạy đại học và sau đại học: “Bệnh Thấp tim “ NXB Y học năm 2004, “ Bệnh học Tim mạch “ NXB Y học năm 2005, “Cấp cứu sơ sinh” NXB Y học năm 2007, “Tăng huyết áp ở trẻ em” NXB Y học năm 2008
III.4. Dịch sách dùng cho huấn luyện

-Được sự nhượng quyền của AAP cùng sự giúp đỡ của PVNF (Project VN foundation) quyển “Hồi sức cấp cứu sơ sinh” được các giảng viên BM Nhi dịch ra tiếng Việt và là sách tham khảo chính cho chương trình huấn luyện HSCCSS các NVYT tại phòng sinh ở các BV thuộc các tỉnh phía nam do BM Nhi tổ chức, đào tạo, huấn luyện dưới sự tài trợ của PVNF và ngân sách địa phương nơi lớp học diễn ra.
- “Cấp cứu thảm họa” được các giảng viên BM Nhi dịch ra tiếng Việt và là sách tham khảo chính cho chương trình huấn luyện cấp cứu thảm họa tại các BV phía nam do BM Nhi tổ chức, đào tạo, huấn luyện dưới sự tài trợ của PVNF.
- Được sự nhượng quyền của NXB Zero to Three , sự đồng ý của tác giả và sự giúp đỡ của Viện dinh dưỡng Abbott, quyển “Chẩn đoán và điều trị biếng ăn ở trẻ em” được các GV BM Nhi dịch ra tiếng Việt và là sách tham khảo cho việc huấn luyện các NVYT phụ trách tham vấn biếng ăn ở trẻ em tại các tỉnh phía Nam.
III.5. Nghiên cứu khoa học
: đa số giảng viên của Bộ môn mỗi năm có 1 đề tài nghiên cứu khoa học. Trong đó có những đề tài cấp Bộ, cấp Thành phố.
III.6. Liên hệ với các Bệnh viện thực tập

-Liên hệ tốt với Ban Giám Đốc các Bệnh viện Nhi đồng I và Nhi đồng II để tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên học tập và các cán bộ giảng của bộ môn làm việc trong bệnh viện.
- Các giảng viên của Bộ môn đều tham gia khám bệnh, điều trị, cấp cứu cho bệnh viện và tham gia hội chẩn các trường hợp bệnh khó, bệnh nặng của Bệnh viện.
- Một số giảng viên của Bộ môn tích cực tham gia công tác quản lý của bệnh viện, đảm nhận các chức vụ Trưởng khoa ( PGS.TS Vũ Minh Phúc, PGS.TS Phan Hữu Nguyệt Diễm, PGS.TS.BS. Đoàn Thị Ngọc Diệp), Phó Trưởng khoa (PGS TS Lâm Thị Mỹ, Th.BS. Nguyễn Thái Sơn, ThS. BS. Đỗ Nguyên Tín), Phó Ban Huấn luyện Đào tạo của bệnh viện Nhi đồng II ( PGS.TS. BS. Phạm Thị Minh Hồng)
III.7.
Tham gia công tác quản lý ở Trường, Khoa Y:
Một số giảng viên của bộ môn Nhi đã tham gia công tác quản lý của Trường, Khoa Y: PGS. TS. BS. Trần Diệp Tuấn là Phó Hiệu Trưởng, Phó Trưởng Khoa Y – Đại học Y Dược TPHCM, PGS. TS. BS. Phạm Lê An là Trưởng Bộ môn Bác sĩ Gia đình, PGS. TS. BS. Bùi Quốc Thắng là Phó Trưởng Bộ môn Hồi sức – Cấp cứu, ThS. BS. Nguyễn Hoài Phong là Phó Ban Đào tạo Khoa Y.

IV. VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ:
Để tạo điều kiện cho các giảng viên của bộ môn học tập, trao dồi kiến thức, nâng cao tay nghề, nhất là có cơ hội đi tu nghiệp ở nước ngòai, bộ môn đã có liên hệ với Tổ chức Y tế Thế giới, và kết nghĩa với nhiều trường đại học và tổ chức phi chính phủ ở Nhật, Mỹ, Pháp, Úc, Thụy điển, Korea, Đài loan, Singapore …
-Từ năm 1990 đến nay, Bộ môn Nhi đã hợp tác với Bộ môn Nhi của các trường đại học Tokyo, Paris, Melbourne, Chicago, Louisianna, Umea Thụy Điển, kết hợp với Project Vietnam ở California để tổ chức nhiều lớp đào tạo sau đại học cho hàng ngàn BS chuyên khoa Nhi cho các tỉnh phía Nam.
- Bộ môn Nhi là trường đầu tiên ở Việt Nam và trường thứ 5 trên thế giới đã hợp tác với Tổ chức Y tế Thế giới trong việc tổ chức giảng dạy chiến lược IMCI cho sinh viên Y khoa trong chương trình đại học từ 1999 đến nay, đã đào tạo nhiều BS theo chiến lược IMCI, được Bộ Y tế đánh giá cao và giao trách nhiệm giúp đỡ các trường Y khác trong cả nước và đã được Bộ cử đi giúp nuớc bạn Lào xây dựng kế hoạch giảng dạy IMCI cho sinh viên Y khoa Lào. Trong Bộ môn có 3 người được Tổ chức Y tế Thế giới mời làm cố vấn về tổ chức – áp dụng giảng dạy IMCI trong đại học là GS.TS Hoàng Trọng Kim, TS. Trần Thị Thanh Tâm và PGS.TS. BS. Đoàn Thị Ngọc Diệp.
- Bộ môn Nhi đã kết hợp với Đại học Melbourne Úc tổ chức nhiều lớp Cấp Cứu Nhi vào tháng 3 và tháng 11 hằng năm .
- Bộ môn Nhi đã kết hợp với Tổ chức phi chính phủ Project Vietnam ở California tổ chức nhiều lớp kỹ năng cấp cứu hồi sức sơ sinh vào tháng 3 và tháng 11 hằng năm.
- Bộ môn Nhi kết hợp với Hội Thận học Quốc tế tổ chức lớp Thận học Nhi khoa cho các Bác sĩ Nhi khoa vào tháng 8.2007.
- Bộ môn Nhi đang hợp tác với Vinacapital Foundation tổ chức các lớp "Cấp cứu Nhi khoa nâng cao". Hiện đã tổ chức được 3 lớp ở TP.Hồ Chí Minh và Cần Thơ, sắp đến sẽ tổ chức ở Đà nẵng, Hà Nội…

V. VỀ TÁC PHONG ĐẠO ĐỨC CỦA GIẢNG VIÊN BỘ MÔN NHI:
-Bộ môn luôn luôn nhắc nhở tất cả giảng viên và nhân viên cố gắng trau dồi tác phong đạo đức của người thấy thuốc và thầy giáo, hết lòng phục vụ bệnh nhân, hết lòng giảng dạy cho sinh viên, khiêm tốn và trung thực trong khoa học.
- Mẫu mực trong lao động sư phạm, được sinh viên và đồng nghiệp thương mến.
- Tạo đoàn kết tốt với đồng nghiệp, sinh viên và bệnh nhân.
- Thắt chặt đoàn kết giữa bộ môn và bệnh viện để tạo điều kiện thuận lợi cho giảng viên làm việc và sinh viên học tập.

VI. VỀ HOẠT ĐỘNG ĐOÀN THỂ:
-Bộ môn luôn luôn hưởng ứng các phong trào thi đua của nhà trường do công đòan và các đòan thể thanh niên phụ nữ phát động.
-Tham gia sinh hoạt khoa học rất đều trong các Hội Nhi khoa, Hội Tim mạch, Hội Hô hấp, Hội Hen và Dị ứng, Hội Cấp Cứu Hồi Sức, Hội Khớp học, Hội Thận học Nhi, Hội Dinh Dưỡng …
- Bộ môn Nhi đã được danh hiệu tập thể lao động xuất sắc liên tiếp trong các năm qua.
- Tất cả các giảng viên đều đạt danh hiệu lao động tiên tiến và nhiều cá nhân trong đơn vị đã đạt chiến sĩ thi đua cấp cơ sở và cấp Bộ.
Qua đó một số giảng viên của Bộ môn đã được bầu vào chức vụ của các hội khoa học như:
- GS.TS Hoàng Trọng Kim hiện nay là Phó chủ tịch Hội Tim mạch quốc gia Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Nhi khoa Quốc gia VN, Chủ tịch Hội Nhi khoa TP.HCM, Chủ tịch Hội Tim mạch Nhi và Tim bẩm sinh TP.HCM, Phó Chủ tịch Hội hành nghề Y tư nhân TP HCM, Uỷ viên Hội đồng khoa học của Hội Tim mạch quốc gia Việt nam, Phó Tổng biên tập Tạp chí Y học TP.HCM của Trường ĐHYD TP.HCM, Ủy viên Ban biên tập Tạp chí Thời sự Tim mạch học của Hội Tim mạch TP.HCM.
- PGS. TS Võ Công Đồng hiện nay là ủy viên Ban chấp hành hội Nhi khoa TPHCM.
- PGS.TS Vũ Huy Trụ là Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Thận học Nhi Việt Nam, Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Thận học TP. HCM và Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Thận học Nhi khoa Á Châu …
- PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Lan là Uỷ viên thường vụ Ban chấp hành Hội Khớp học Việt Nam
- TS.BSCK2 Huỳnh Thị Duy Hương hiện nay là ủy viên thường trực Ban chấp hành Hội Nhi khoa Châu Á Thái Bình Dương về giấc ngủ trẻ em từ năm 2008, ủy viên thường trực Ban Tham vấn về biếng ăn trẻ em các quốc gia thuộc vùng Châu Á Thái Bình Dương từ năm 2009, giảng viên chính khối Pháp ngữ AUF khu vực Châu Á Thái Bình Dương từ năm 1999, ủy viên BCH Công Đoàn Khoa Y ĐHYD từ năm 1978 đến 1999, phụ trách huấn luyện và đào tạo chương trình sơ sinh đại học và sau đại học của ĐHYD.
- PGS.TS. Phạm Thị Minh Hồng là ủy viên Ban chấp hành Hội Hô Hấp TPHCM, ủy viên Ban chấp hành Hội Nhi khoa TPHCM, tổ trưởng Công đoàn Bộ môn Nhi từ năm 2000, ủy viên Ban chấp hành Công đoàn Khoa Y, Trưởng Ban Thanh Tra Nhân Dân Khoa Y, Ủy viên Ban Thanh Tra Nhân Dân Đại học Y Dược TPHCM.
- PGS.TS Trần Diệp Tuấn hiện nay là Ủy viên Hội Nhi khoa Quốc gia Việt Nam

VII. CÁC HUY CHƯƠNG, BẰNG KHEN VÀ DANH HIỆU ĐÃ ĐẠT:
-GS.TS Hoàng Trọng Kim, Chủ nhiệm Bộ môn đã đạt danh hiệu nhà giáo ưu tú, đã nhận các huân chương vì sự nghiệp giáo dục, khoa học công nghệ, sức khỏe nhân dân, vì thế hệ trẻ.
- PGS.TS Võ Công Đồng đã đạt danh hiệu Thầy thuốc ưu tú, huy hiệu Hồ Chí Minh, huy chưong vì sự nghiệp giáo dục, vì sức khỏe nhân dân, vì thế hệ trẻ
- PGS.TS Lâm Thị Mỹ đã đạt danh hiệu Thầy thuốc ưu tú, huy chưong vì sự nghiệp giáo dục, vì sức khỏe nhân dân, vì thế hệ trẻ
- PGS.TS Lê Ngọc Dung đã đạt huy chưong vì sự nghiệp giáo dục, vì sức khỏe nhân dân, vì thế hệ trẻ
- PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Lan đã đạt huy chưong vì sự nghiệp giáo dục, vì sức khỏe nhân dân, vì thế hệ trẻ
-PGS.TS.BS. Phạm Thị Minh Hồng đã được tặng Giấy Khen của Hiệu trưởng Đại học Y Dược năm 2004-2008, Giấy Khen của Ban Chấp hành Công đoàn Khối Cơ sở Bộ Y tế năm 2006, 2008, 2009; Chiến sĩ thi đua cấp Bộ năm 2009.
-TS BSCK2 Huỳnh Thị Duy Hương đã đạt huy chưong vì sự nghiệp giáo dục, vì sức khỏe nhân dân, vì thế hệ trẻ, vì sự nghiệp Công đoàn, vì sự nghiệp Chữ thập đỏ,vì sự nghiệp Hiến máu nhân đạo; đã được tặng Giấy Khen của Hiệu trưởng Đại học Y Dược vì đã có nhiều thành tích trong công tác xây dựng và phát triển ĐHYD TPHCM; đã được tặng bằng khen của Chủ tịch UBND TPHCM về thành tích chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, bằng khen của Chủ tịch UBND TPHCM về thành tích hiến máu nhân đạo trên 30 lần, cứu sống nhiều bệnh nhân, bằng khen của Thủ tướng Chính phủ về thành tích hiến máu nhân đạo trên 40 lần, cứu sống nhiều bệnh nhân.
-BSCK2 Ngô Thị Kim Nhung đạt huy chương vì sự nghiệp giáo dục, kỷ niệm chương vì sức khỏe nhân dân
-BSCK2 Lê Thị Phan Oanh đạt huy chương vì sự nghiệp giáo dục, kỷ niệm chương vì sức khỏe nhân dân
-KTV. Nguyễn Ngọc Hương đã đạt huy chưong vì sức khỏe nhân dân

VIII. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN TIẾP:
VIII.1.
Hoạt động giảng dạy – đào tạo, nâng cao chất lượng giảng dạy Nhi khoa:
* Đối với sinh viên & học viên sau đại học:
- Triển khai các phương pháp dạy – học tích cực nhằm tạo điều kiện phát huy tính tự học, phát huy tư duy sáng tạo, khả năng giải quyết vấn đề của sinh viên học viên:
phương pháp học dựa trên vấn đề (PBL), học qua mạng (E-learning)
- Cải thiện chất lượng thực hành lâm sàng cho sinh viên học viên nhằm tăng cường chất lượng đào tạo kỹ năng lâm sàng.
- Tăng cường các chương trình trao đổi sinh viên với các nước khác, cụ thể là Thụy Điển, Pháp, Mỹ, Canada
* Đối với giảng viên:
-Thành lập nhóm nòng cốt về sư phạm y học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy của toàn bộ giảng viên trong bộ môn. Bảo đảm tính khoa học và tính thống nhất về phương pháp và nội dung giảng dạy giữa các giảng viên trong bộ môn.
- Tái bản và cập nhật các sách lý thuyết nhi khoa, thực hành lâm sàng nhi khoa phục vụ sinh viên học viên, chủ động phối hợp với Bộ môn Nhi Hà Nội và Hội Nhi khoa quốc gia để viết Sách Nhi khoa Việt Nam toàn thư (Text book)
- Xuất bản các sách phục vụ giảng dạy và học tập: Cấp cứu Nhi khoa, sách tham khảo của từng chuyên khoa
- Thăm dò thường xuyên và định kỳ ý kiến phản hồi từ sinh viên và học viên để điều chỉnh phương pháp và nội dung giảng dạy theo từng đối tượng.
- Thăm dò các nhu cầu thực tế về nhi khoa tại các địạ phương để điều chỉnh nội dung giảng dạy cho phù hợp.
- Triển khai các chương trình trao đổi giảng viên với các nước Thuy Điển, Pháp, Mỹ … để nâng cao trình độ sư phạm y học cho giảng viên.
*
Mở rộng đối tượng và lĩnh vực giảng dạy – đào tạo:
- Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ giảng dạy thường qui tại ĐHYD TPHCM cho SV và học viên sau đại học
- Mở rộng các chương trình tái đào tạo cho bác sĩ nhi khoa các tuyến tỉnh, huyện thuộc khu vực phiá nam
- Triển khai chương trình tái đào tạo và cập nhật hoá trên nhiều lĩnh vực cho bác sĩ thực hành nhi khoa tại cộng đồng và tại các bệnh viện thuộc các tỉnh phía nam
* Về lĩnh v
c chuyên khoa hóa các chuyên khoa sâu Nhi khoa:
- Tiếp tục chuyên khoa hóa các giảng viên theo từng chuyên khoa sâu. Bổ sung giảng viên theo yêu cầu của từng chuyên khoa.
- Tiếp tục cập nhật hoá các tiến bộ y học cho các giảng viên của các chuyên khoa.
- Tiếp tục hợp tác điều trị với các bệnh viện thực hành (Nhi Đồng I, Nhi Đồng 2)
- Xác định và phát triển các chuyên khoa mũi nhọn của Bộ môn
- Tiếp tục đào tạo liên tục cho giảng viên theo các chương trình trong và ngoài nước
VIII.2. Lĩnh vực nghiên cứu khoa học:

-Thành lập nhóm nòng cốt về nghiên cứu khoa học của bộ môn. Nhóm này sẽ chiụ trách nhiệm về lĩnh vực nghiên cứu cũng như việc nâng cao trình độ nghiên cứu của các giảng viên, học viên sau đại học của bộ môn.
- Tiếp tục tổ chức với trình độ ngày càng nâng cao các lớp huấn luyện phương pháp nghiên cứu khoa học cho giảng viên bộ môn.
- Xác định các mục tiêu nghiên cứu theo từng năm hoặc từng giai đoạn nhằm có kế họach thực hiện tốt và sử dụng kết quả nghiên cứu cho phù hợp với nhu cầu thực tế về chuyên môn cũng như về giảng dạy, đào tạo.
- Tăng cường chất lượng nghiên cứu của giảng viên và học viên sau đại học.
- Mở rộng nghiên cứu lĩnh vực sư phạm y học nhằm phục vụ công tác giảng dạy – đào tạo.
- Lập kế hoạch áp dụng và sử dụng các kết quả nghiên cứu của giảng viên và học viên.
- Tăng cường chất lượng của các hội nghị khoa học do ĐHYD TP HCM và Bộ môn Nhi tổ chức.
VIII.3.
Lĩnh vực hợp tác quốc tế:
*Về giảng dạy – đào tạo:

-Tiếp tục hợp tác với WHO về tăng cường chất lượng giảng dạy thực hành nhi khoa tại phòng khám và trong cộng đồng với ICATT - IMCI (Integrated Management of Childhood Illness Adaptation Trainning Tool)
- Tiếp tục hợp tác với các tổ chức, cá nhân ở các nước phát triển để phát triển các chuyên khoa sâu, nhất là các chuyên khoa mũi nhọn của Bộ môn.
- Tiếp tục tạo điều kiện để các giảng viên được đi học tập, tu nghiệp, nghiên cứu ở nước ngoài theo chuyên khoa của mình, tiếp tục hợp tác với Project Viet Nam để giảng dạy cho các bác sĩ chuyên khoa nhi về hồi sức sơ sinh.
- Triển khai các dự án hợp tác với Project Viet Nam để giảng dạy cho các bác sĩ chuyên khoa nhi về các chuyên khoa khác: Hô hấp, Nhiễm, Cấp cứu – hồi sức,…
- Tiếp tục hợp tác với BV Melbourne để giảng dạy cho các bác sĩ chuyên khoa Nhi về Hồi sức nâng cao.
-Triển khai các dự án liên kết với Project Viet Nam và Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ để thực hiện chương trình đào tạo liên tục và tái đào tạo cho các bác sĩ chuyên khoa Nhi nhằm nâng cao chất lượng của bác sĩ Nhi khoa Việt nam.
- Tiếp tục tham gia dự án về đạo tạo các chuyên gia về sư phạm y học và nghiên cứu khoa học của Hà Lan
- Tiếp tục liên kết với UCSF về đào tạo sư phạm y học cho giảng viên.
*Về nghiên cứu khoa học:
- Tiếp tục tìm các nguồn hợp tác đào tạo để nâng cao trình độ nghiên cứu khoa học của giảng viên.
-Tìm các nguồn hợp tác nghiên cứu về lĩnh vực chuyên môn có tính ứng dụng cao.

TP HCM, ngày 22.6.2010
Người viết bài Giới thiệu Bộ môn Nhi,
GS.TS. Hoàng Trọng Kim
và PGS.TS.Vũ Minh Phúc


Lên đầu trang |Số lần xem: 54134


Đăng nhập
Username:
Password:
Chuyên mục lượng giá
Học bổng
Phần mềm giải phẫu bệnh
Research methods and statistics
EBM Promotion in Ho Chi Minh City
Tạp chí Y Học TP. HCM
Thư viện điện tử ĐHYD
Đổi mới dạy và học
Từ điển Giải phẫu
Từ điển Anh Pháp Việt
Liên hệ quảng cáo